Trong đời sống pháp lý và thực tiễn gia đình, việc quản lý tài sản của con chưa thành niên luôn là một trong những chủ đề nhạy cảm, đòi hỏi sự cẩn trọng và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật. Không chỉ liên quan đến quyền sở hữu và định đoạt tài sản, mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em – nhóm đối tượng cần được bảo vệ đặc biệt.
Thực tế tại Việt Nam cho thấy, nhiều bậc cha mẹ hoặc người giám hộ vẫn còn mơ hồ trong việc xác định ranh giới pháp lý giữa “quản lý tài sản” và “định đoạt tài sản” của con chưa đủ tuổi thành niên. Điều này dẫn đến nhiều rủi ro pháp lý, thậm chí phát sinh tranh chấp hoặc ảnh hưởng đến quyền lợi lâu dài của chính đứa trẻ. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi trẻ em có thể thừa hưởng tài sản riêng, nhận tặng cho hoặc có thu nhập hợp pháp từ các hoạt động nghệ thuật, sáng tạo hay kinh doanh online, thì vai trò của cha mẹ với tư cách là người đại diện pháp luật càng trở nên quan trọng.
Bài viết sau đây của Lexconsult & Cộng sự sẽ phân tích chi tiết và cập nhật toàn diện các quy định pháp luật liên quan đến việc quản lý và định đoạt tài sản của con chưa thành niên, đồng thời đưa ra góc nhìn tư vấn thực tiễn giúp phụ huynh và người giám hộ nắm rõ quyền – nghĩa vụ và hành xử đúng luật, bảo vệ tối đa lợi ích của con em mình.

1. Người chưa thành niên là ai?
Theo quy đinh tại Điều 21 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người chưa thành niên
1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.
Như vậy, người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, trong các giao dịch dân sự thì người chưa thành niên không được thực hiện các giao dịch có giá trị lớn, trừ trường hợp giao dịch phục vụ nhu cầu bản thân. Trường hợp người từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi vẫn có thể tự mình thực hiện các giao dịch dân sự trừ các giao dịch liên quan bất động sản, nếu người này muốn giao dịch các bất động sản thì buộc phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.
Như vậy, cha mẹ là người đại diện thực hiện các giao dịch cho con khi con chưa thành niên. Tuy nhiên, trong trường hợp con phát sinh trách nhiệm bồi thường thì cha mẹ có trách nhiệm liên đới theo quy định của Bộ luật Dân sự.
2. Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ khi quản lý tài sản của con chưa thành niên
2.1. Đại diện pháp luật
Quyền đại diện và quản lý tài sản của cha mẹ
Theo Điều 73 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
1. Cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự, trừ trường hợp con có người khác làm giám hộ hoặc có người khác đại diện theo pháp luật.
2. Cha hoặc mẹ có quyền tự mình thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
3. Đối với giao dịch liên quan đến tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng, tài sản đưa vào kinh doanh của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì phải có sự thỏa thuận của cha mẹ.
4. Cha, mẹ phải chịu trách nhiệm liên đới về việc thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản của con được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và theo quy định của Bộ luật dân sự.
Theo quy định trên, cha mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên, trừ khi có người giám hộ khác.
Cha mẹ có quyền:
– Tự mình thực hiện các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của con.
– Thỏa thuận về giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn như bất động sản, động sản phải đăng ký, hoặc tài sản dùng cho mục đích kinh doanh.
– Chịu trách nhiệm liên đới nếu phát sinh nghĩa vụ dân sự liên quan đến tài sản của con.
2.2. Quản lý tài sản riêng
Theo Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về Quản lý tài sản riêng của con:
1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.
Theo quy định trên:
– Con từ đủ 15 tuổi trở lên: Có thể tự quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
– Con dưới 15 tuổi: Cha mẹ quản lý, có thể ủy quyền cho người khác.
– Trường hợp có giám hộ hoặc người tặng cho/chỉ định người khác quản lý: Cha mẹ không được quản lý tài sản đó.
Tài sản riêng sẽ được giao lại cho con khi:
– Con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc
– Con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
2.3. Quyền định đoạt tài sản của người chưa thành niên
Theo Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.
Theo quy định trên thì:
– Con dưới 15 tuổi: Người giám hộ hoặc cha mẹ định đoạt tài sản vì lợi ích con. Nếu từ đủ 9 tuổi trở lên, cần tham khảo nguyện vọng con.
– Con từ 15 đến dưới 18 tuổi: Có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ bất động sản, động sản có đăng ký hoặc tài sản dùng vào mục đích kinh doanh – các trường hợp này cần văn bản đồng ý của cha mẹ/giám hộ.
– Con thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự: Người giám hộ thực hiện định đoạt tài sản.
3. Những lưu ý khi cha mẹ quản lý tài sản cho con
Từ những phân tích trên, có thể thấy quản lý tài sản của con chưa thành niên không đơn thuần là vấn đề nội bộ trong gia đình, mà còn liên quan mật thiết đến quy định pháp luật về dân sự, tài sản, giám hộ và cả nghĩa vụ bồi thường khi có thiệt hại xảy ra. Một số hướng tư vấn dành cho phụ huynh và người đại diện pháp lý:
– Không được sử dụng tài sản của con vào mục đích riêng;
– Các giao dịch vượt thẩm quyền sẽ bị vô hiệu nếu không có sự đồng thuận hợp lệ;
– Cần minh bạch giấy tờ, xác lập rõ ràng nguồn gốc tài sản;
– Ký kết thỏa thuận quản lý tài sản rõ ràng khi con từ đủ 15 tuổi trở lên;
– Xin ý kiến luật sư khi muốn sử dụng tài sản của con cho mục đích đầu tư hoặc xử lý tài chính cá nhân;
– Thận trọng khi nhận tài sản tặng cho con kèm theo điều kiện, nhất là khi người tặng chỉ định người giám hộ quản lý;
– Giám sát chặt chẽ người giám hộ tài sản nếu không phải cha mẹ để đảm bảo quyền lợi con không bị xâm phạm.
Việc quản lý tài sản cho con chưa thành niên không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm pháp lý của cha mẹ. Khi con trưởng thành hoặc có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, quyền sở hữu và định đoạt tài sản phải được tôn trọng theo quy định của pháp luật. Cha mẹ cần lưu ý các quy định cụ thể về việc đồng ý bằng văn bản, giới hạn trong việc định đoạt tài sản bất động sản hay động sản có đăng ký, cũng như trách nhiệm khi phát sinh tranh chấp dân sự. Nếu bạn đang trong tình huống liên quan đến việc định đoạt, thừa kế, chuyển nhượng tài sản cho con chưa thành niên hoặc gặp vướng mắc trong việc ủy quyền, giám hộ, hãy chủ động tham vấn luật sư. Việc đảm bảo đúng quy trình pháp lý ngay từ đầu sẽ giúp bạn phòng ngừa rủi ro và bảo vệ tốt nhất quyền lợi cho con mình. Liên hệ ngay với Công ty Luật TNHH Lexconsult & Cộng sự để được tư vấn miễn phí ban đầu và hỗ trợ chuyên sâu về các vấn đề pháp lý liên quan đến tài sản của người chưa thành niên.
Xem thêm các bài viết liên quan:
Tránh rắc rối khi tặng cho đất – Khi nào cần chữ ký đầy đủ thành viên trong gia đình?
Hợp đồng đặt cọc mua đất: Công chứng hay không công chứng – cái nào an toàn hơn?
Mua bán đất bằng giấy viết tay có được cấp sổ đỏ không?
Mua bất động sản sổ chung: Quy định pháp luật, thủ tục và rủi ro cần lưu ý
Thời hạn sở hữu căn hộ chung cư tại Việt Nam: Quy định pháp luật người mua cần biết
Chủ nhà chưa có sổ hồng vẫn cho thuê: Lách luật hay đúng luật?
Các trường hợp miễn thuế thu nhập cá nhân khi mua bán đất
Bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất: Quy định và điều kiện áp dụng
Mua nhầm đất không có lối đi: Cách xử lý theo pháp luật
Đền bù đất ở khi bị thu hồi: Quy định & quyền lợi người dân
Trách nhiệm pháp lý khi xây nhà gây ảnh hưởng đến công trình liền kề
Người nước ngoài có được mua đất và cấp sổ đỏ tại Việt Nam năm 2025?

English