Trong đời sống hôn nhân tại Việt Nam, việc cha mẹ tặng cho con cái quyền sử dụng đất để xây nhà là điều phổ biến. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng hoàn tất thủ tục sang tên quyền sử dụng đất một cách đầy đủ. Nhiều cặp vợ chồng chung sống và xây dựng tài sản chung trên đất bố mẹ tặng miệng hoặc chưa làm thủ tục pháp lý. Khi ly hôn, một trong những tranh chấp phổ biến phát sinh là: ngôi nhà xây dựng trên đất đứng tên cha mẹ có được xem là tài sản chung và chia khi ly hôn không? Đây là vấn đề pháp lý phức tạp, đòi hỏi hiểu rõ quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và Gia đình, cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong bài viết này, Lexconsult & Cộng sự sẽ phân tích chi tiết để giúp bạn hiểu rõ quyền và nghĩa vụ pháp lý khi rơi vào tình huống này.

1. Quy định về tặng cho tài sản
Theo quy định tại Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015 thì hợp đồng tặng cho tài sản là đất “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”. Bên cạnh đó đối với tài sản là bất động sản được quy định theo Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015 về tặng cho bất động sản
“1. Tặng cho bất động sản phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng thực hoặc phải đăng ký, nếu bất động sản phải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của luật.
2. Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký; nếu bất động sản không phải đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm chuyển giao tài sản”.
Theo Điều 457 và Điều 459 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng tặng cho bất động sản chỉ có hiệu lực khi được lập thành văn bản và đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền (nếu tài sản phải đăng ký). Trường hợp bố mẹ cho đất nhưng chưa sang tên, về mặt pháp lý, quyền sử dụng đất vẫn thuộc sở hữu của bố mẹ, không phải tài sản của vợ chồng. Đối với tài sản là bất động sản như đất đai, nhà ở thì việc tặng cho tài sản phải được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền thì hợp đồng đó mới có hiệu lực pháp luật. Từ những nội dung trên nhận thấy rằng bố mẹ cho con đất nhưng chưa lập thủ tục đăng ký tại cơ quan chức năng thì việc tặng cho không có hiệu lực pháp luật. Đất được tặng cho vẫn là đất của bố mẹ, con có thể xây nhà trên đất của bố mẹ khi được bố mẹ đồng ý. Tuy nhiên trong một số trường hợp xảy ra tranh chấp hoặc vợ chồng ly hôn thì đất sẽ trả lại cho bố mẹ mà không phải chia do đây vẫn còn là tài sản của bố mẹ.
Như vậy, sau khi ly hôn một bên vợ chồng chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản vợ chồng có thoả thuận về các tài sản chung theo Luật hôn nhân và gia đình. Đối với bất động sản là đất của bố mẹ thì vợ chồng sau khi ly hôn không có quyền yêu cầu được chia tài sản đó.
2. Phân chia tài sản là nhà xây trên đất bố mẹ
Tài sản chung của vợ chồng được xác định theo khoản 1 Điều 33 Tài sản chung của vợ chồng theo Luật hôn nhân và gia đình 2014 “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Tùy thuộc vào việc quyền sử dụng đất, nhà ở là tài sản chung hay tài sản riêng mà phương án xử lý tài sản đó khi ly hôn sẽ khác nhau, cụ thể:
Trường hợp thứ nhất: Nếu chi phí xây nhà là từ tiền lương của vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân thì vẫn được coi là tài sản chung của vợ chồng theo điểm b khoản 4 điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Theo quy định trên, nếu nhà được xây dựng bằng tiền lương, thu nhập trong thời kỳ hôn nhân thì nhà được coi là tài sản chung của vợ chồng (khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, và điểm b khoản 4 Thông tư liên tịch 01/2016). Khi ly hôn, vợ chồng có thể yêu cầu chia giá trị ngôi nhà (không chia đất), và người ở lại phải thanh toán phần chênh lệch giá trị cho bên còn lại.
Trường hợp thứ 2: Theo quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân gia đình 2014, nếu chi phí xây nhà từ tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng như tiền có trước khi kết hôn, được tặng cho, thừa kế riêng… thì phần nhà xây dựng trên đất là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng. Theo quy định trên, nếu tiền xây nhà là tài sản riêng (do tặng cho, thừa kế, có trước khi kết hôn), ngôi nhà được xác định là tài sản riêng của người có quyền sử dụng tài sản đó. Bên còn lại không có quyền yêu cầu chia trừ khi có chứng cứ chứng minh đóng góp.
Trường hợp thứ 3: Khi không chứng minh được là tài sản riêng? Theo quy định tại khoản 3 điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung. Đồng thời theo khoản 1, 2 và 3 điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi ly hôn, vợ chồng được phép thỏa thuận phân chia tài sản chung. Trong trường hợp hai bên không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết, khi đó tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:
– Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;
– Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;
– Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;
– Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.
Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
3. Cách xử lý khi tài sản xây dựng nằm trên đất chưa sang tên
– Ngôi nhà vẫn có thể được xác định là tài sản chung nếu chứng minh được xây dựng bằng tài sản chung.
– Tuy nhiên, đất không thuộc quyền sở hữu vợ chồng thì không chia đất, chỉ chia giá trị phần nhà.
– Tòa án thường tuyên bố hoàn trả lại đất cho cha mẹ và xử lý giá trị căn nhà theo nguyên tắc tài sản chung.
Khi giải quyết ly hôn, tranh chấp liên quan đến tài sản chung, đặc biệt là nhà xây trên đất bố mẹ, thường phức tạp do liên quan đến yếu tố pháp lý và cảm xúc gia đình. Người dân cần hiểu rõ: việc xây dựng trên đất không đứng tên, không có văn bản tặng cho hợp pháp sẽ dẫn đến nhiều rủi ro trong việc đòi chia tài sản. Nếu bạn hoặc người thân đang gặp phải vấn đề tương tự, hãy tìm đến sự tư vấn của luật sư để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Việc nắm rõ quy định và chuẩn bị hồ sơ pháp lý đầy đủ ngay từ đầu là cách tốt nhất để tránh các tranh chấp về sau.
Bạn đang gặp khó khăn pháp lý về hôn nhân, chia tài sản, tranh chấp đất đai? Hãy liên hệ ngay với Công ty Luật TNHH Lexconsult & Cộng sự để được tư vấn, hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách nhanh chóng, hiệu quả.
Xem thêm các bài viết liên quan:
Nghĩa vụ thanh toán nợ của vợ chồng khi ly hôn: Ai phải trả và quy định pháp luật 2025
Giành quyền nuôi con khi chưa đăng ký kết hôn: Quy định pháp luật và hướng giải quyết
Ly hôn đơn phương vắng mặt: Quy trình pháp lý và hồ sơ cần thiết
Con nuôi hợp pháp tại Việt Nam: Những lưu ý không thể bỏ qua
Tài sản riêng vợ chồng: Làm sao để chứng minh khi ly hôn
Vợ chồng chia tài sản chung để tránh trách nhiệm: Có bị vô hiệu?
Thủ tục kết hôn với người nước ngoài tại Việt Nam: Hướng dẫn chi tiết 2025

English